CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN VÀ QUYỀN TÀI PHÁN CỦA QUỐC GIA TRÊN VÙNG ÐẶC QUYỀN KINH TẾ
Phan Tấn Thiện
I.
DẪN NHẬP
Để diễn t ả
cho bức t ranh hoành t ráng, bao la của núi non cùng biển cả cổ nhân t hường cho rằng: “Tam Sơn, Tứ Hải, Nhứt Phần Điền.” Nói như t hế
ắt người xưa nghĩ rằng nếu quả đất của chúng t a
chia ra làm t ám phần t hì t rong
đó núi non chiếm hết ba phần, bốn
phần là biển cả và chỉ còn lại một
phần chúng t a cày cấy được mà t hôi.
Ngày nay, khi con người đã đặt
chân cho t ới cung t răng, sao Hỏa t hì
việc t ính t oán
về diện t ích của địa cầu và sự phân
bố của biển cả cũng như núi rừng so với phần đất
còn lại dành cho con người sinh sống bằng nông nghiệp ắt
không còn là một bài t oán mơ hồ khó khăn như lúc t rước.
Hãy gạt bỏ
vấn đề đúng sai về phương diện t ính t oán khoa học của câu nói t rên.
Theo t ôi, có lẽ cổ nhân muốn nhắn
nhủ lại cho hậu t hế rằng cái mà t ạo hóa dành cho loài người t hật là it
ỏi. Con người muốn t ồn t ại cần phải đấu t ranh
và khắc phục t hiên nhiên. Chẳng
những t hế t hôi,
quả đất của chúng t a không nở rộng t hêm
ra mà dân số t hì t ăng lên mãi sau khi đã khấu t rừ
đi những mất mác bởi lão hóa, t hiên t ai,
nạn dịch, và chiến t ranh.
Đất hẹp,
người càng ngày càng đông, ngoài sự đấu t ranh
với t hiên nhiên, sự đấu t ranh giữa người với người cũng càng t hêm gay gắt .
Có lẽ bởi đó mà ra t ất cả những lý t huyết , chủ nghĩa, giai cấp, nhân danh đều là những chiêu
bài để bành t rướng quyền t ư hữu về đất
đai và lợi nhuận.
Khi đấu t ranh
với t hiên nhiên, con người vận dụng t rí t hông
minh để chinh phục cho bằng được những t rở
lực mà t ạo hóa áp đặt , đôi khi con người cũng bị t hiên
nhiên quật ngã không t hương t iếc.
Khi đấu t ranh giữa người và người
nảy sinh t hì luật pháp xuất
hiện lý giải cho công lý vượt lên
phía t rước và cho xã hội loài người
được t hăng hoa.
Công ước Quốc t ế
về Luật Biển là sự đồng t huận của đa số những quốc gia t rên t hế
giới về những t ập t ục của quốc t ế
về Hàng Hải và Đại Dương. Qua đó chủ quyền của những quốc gia cận duyên được
xác định t rên vùng biển bao bọc xung
quanh đất liền hay những hải đảo t rực t huộc
chủ quyền của quốc gia mình.
Bài viết
này bắt đầu bằng sự giám xét nguyên lý t iên
khởi của khái niệm về vùng Đặc Quyền Kinh Tế dựa t rên
quan điểm đóng góp về địa dư và kinh t ế
của một quốc gia. Vấn đề sẽ được t iếp t ục
bàn t hảo về quyền t ài phán của một
quốc gia t rong vùng Đặc Quyền Kinh
Tế. Sau hết chúng t ôi sơ lược những học t huyết về hàng hải khi nghiên cứu vấn đề liên quan đến
chủ quyền lãnh t hổ t rong khi bảo vệ những t ài
nguyên t hiên nhiên và những hoạt động bất
hợp pháp của những cá nhân hay t ập t hể hay những quốc gia khác t rong
vùng biển t iếp cận với quốc gia
mình.
II.
MỰC NƯỚC TRÊN BIỂN THUỘC QUỐC GIA CẬN DUYÊN THEO CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ
Vùng biển t iếp
xúc với đất liền của một quốc gia t heo
công pháp quốc t ế hiện nay t hì được chia làm ba vùng rõ rệt .
1. Chúng
2. Vùng kế
3. Vùng
Trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế này, quốc gia có bờ biển t iếp cận được quyền hành xử rộng rãi đối với những t ài nguyên t hiên
nhiên, như khoáng sản, dầu mỏ, ngư t rường.
Những quốc gia khác chỉ được quyền di chuyển t àu
bè, hoặc bay ngang không phận t rong
vùng hoặc chạy những đường dây cable hay đường ống dẫn dầu t rong vùng đặc quyền kinh t ế
này mà t hôi.[ii] Căn cứ vào những
t ập t ục
và qui ước đó, những quốc gia ven biển được quyền t hiết lập quyền hành xử và những biện pháp chế t ài đối với những vi phạm t rong
vùng Đặc Quyền Kinh Tế của họ.[iii]
Cho đến giữa t hế
kỷ 20, t ất
cả những vùng biển t ừ 12 dặm, kể t ừ dấu mé nước t iếp
giáp với đất liền, t rở đi đều được cho rằng đó là những vùng t huộc hải phận quốc t ế,
và như vậy không quốc gia nào được quyền cho rằng mình có quyền t rên vùng biển đó cả.[iv]
III.
LỊCH SỬ TIẾN HÓA CỦA VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ
Trước năm 1945, t ất cả những khiếu nại, t uyên
bố về sự độc quyền khai t hác ngư t rường và khoáng sản t rong
t hềm đại lục của một quốc gia ở mọi cấp độ hay t rong
phạm t rù t iến
bộ của khoa học và kỹ t huật được dựa vào những nguyên t ắc
lịch sử. Luật về biển cả được phát t riển
một cách có hệ t hống cũng bắt
đầu vào năm 1948, t rong năm đó Hoa
Kỳ đầu t iên t uyên
bố rằng lãnh hải của quốc gia phải đi kèm với những đặc quyền t ương xứng với t iềm
năng về quặng mỏ và ngư t rường t rong vùng biển của nước mình.
A.
Tuyên Bố của Truman:
Theo t uyên
ngôn Truman của Hoa Kỳ về luật biển,
Hoa Kỳ khẳng định rằng t ất cả những t ài
nguyên t hiên nhiên nằm t rong t hềm
lục địa của Hoa Kỳ, nằm t rong vùng đất dưới lòng biển t iếp
giáp với Hoa Kỳ là t ài nguyên t huộc Hoa Kỳ và nằm t rong
sự kiểm soát , chịu sự chi phối của
luật lệ Hoa Kỳ[v]. Theo t uyên ngôn này t hì
chính phủ Hoa Kỳ có t oàn quyền t rong việc bảo vệ ngư t rường
của mình dầu ngư t rường này có nằm t rong vùng hải phận quốc t ế
đi nữa một khi vùng biển quốc t ế này có dính dáng đến những vùng t iếp cận của lãnh hải Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ cho rằng t rước
kia những t hỏa ước về ngư nghiệp
giữa Hoa Kỳ và những quốc gia khác không đủ bảo vệ ngành cá t rong vùng biển xung quanh Hoa Kỳ. Hoa Kỳ t uyên bố có đầy đủ t hẩm
quyền để gìn giữ và quản lý ngành cá t rong
những ngư t rường mà t rước đây ngư dân Hoa Kỳ hoạt
động. Những vùng đánh cá nào mà t rước
đây có sự đánh cá chung chạ giữa ngư dân Hoa Kỳ và những ngư dân của những quốc
gia khác sẽ được qui định bảo vệ và quản lý chung giữa hai quốc gia. Nói vậy
chứ t hật
ra Hoa Kỳ chưa t hành lập được những t hẩm quyền quản lý chung với quốc gia khác như t uyên ngôn này qui định.
B.
Tuyên Bố của Những Quốc Gia t huộc
Vùng Châu Mỹ La-Tinh:
Năm 1952, Peru ,
Chile và Ecuador cùng ký t uyên
ngôn t ại Sant iago
cho những qui định về lãnh hải. Những quốc gia này cho rằng những quốc gia t iếp cận với biển có chủ quyền và có đầy đủ t hẩm quyền t ài
phán t rong vùng biển t iếp cận với quốc gia mình t rong
t ầm không quá 200 hải lý[vi]. Ba quốc gia t rên vừa t uyên
bố xong t hì một
số lớn các quốc gia t rong vùng Nam
Mỹ Châu hò lên hưởng ứng và t uyên bố
rằng họ có đầy đủ chủ quyền t rên t hềm lục địa và t rên
vùng biển t iếp cận của quốc gia mình
t rong chiều rộng là 200 hải lý kể t ừ mức nước t ại
bờ[vii].
Đến đây chúng t a
có t hể t hắc
mắc t ại sao con số 200 hải lý lại
được chọn làm lằn ranh t ối đa cho
vùng biển t iếp cận của một quốc gia, bao t rùm
luôn cả vùng Đặc Quyền Kinh Tế? Thực ra sự chọn lựa này có nguyên nhân chính t rị và lịch sử chứ không ăn nhập gì đến vấn đề địa
dư, môi t rường hay sinh học của quốc
gia. Ngay t ại Hội Nghị về Công Ước
Quốc Tế về Luật Biển 3 nước Chile,
Peru, và Ecuador đều dành cho mình có hải phận cách bờ là 200 dặm biển. Không t hể t huyết phục 3 t hành
viên này chấp nhận chiều rộng của hải phận mình nhỏ hơn 200 dặm, cho nên cách
dễ giải quyết nhất là hội nghị đồng ý rằng 200 dặm là lằn mức t ối đa cho Công Ước Quốc Tế về hải phận của những
quốc gia t rên t hế
giới. Nhưng đến đây câu hỏi t rên
dường như chưa được t rả lời t hỏa đáng. Tại sao Chile lại chọn con số 200 hải lý
làm chiều rộng cho hải phận của quốc gia mình t ính
cho đến mút lằn ranh của vùng Đặc
Quyền Kinh Tế? Thật ra con số 200
dặm biển này cũng là một sự t ình cờ ngẫu nhiên mà t hôi.
Chile có công nghiệp về Cá Voi, muốn bảo vệ nền công nghiệp này, cũng như không
cho những ngư dân các nước khác săn Cá Voi t rong
vùng lãnh hải của mình, Chile cần có t hẩm
quyền kiểm soát vùng biển của mình t rong vòng 55 hải lý kể t ừ
mực nước t ại bờ. Nhưng ước muốn của
nghành công nghiệp Cá Voi của Chile
không dừng t ại đây. Theo Tuyên Ngôn
của Panama
năm 1939 t hì vùng an t oàn cho lãnh hải của một
quốc gia phải kể rằng là 300 hải lý. Cho nên nghành công nghiệp Cá Voi của Chile
chiếu t heo t iền
sự này và cứ đòi cho được Hải phận của quốc gia mình có chiều rộng là 200 dặm
biển.[viii]
Như những quốc gia khác, Canada cũng t uyên bố vùng biển cận duyên của quốc gia mình dựa t heo những qui định t rong
Công Ước Quốc Tế về Luật Biển, t rên t ừ
cơ sở đó luật pháp Canada t ìm cách xác nhận chủ quyền của quốc gia mình để t ìm ra những biện pháp t hích
nghi t rong việc hành xử quyền t ài phán cho quốc gia mình t rên
biển cả.
Trước khi bàn t hảo
về những t iến bộ t rong việc hành xử quyền t ài
phán của Canada t rên vùng Đặc Quyền
Kinh Tế, chúng t a cũng nên có một cái nhìn sơ lược qua những căn bản pháp lý mà
Canada đã t hành lập để xác định lằn
ranh lãnh hải của quốc gia t rong
biên giới của một vùng biển bao la.
C.
Quyền Tài Phán của Canada t rong Vùng
Đặc Quyền Kinh Tế
Vào năm 1964, Canada t ự
mình t hành lập một vùng ngư t rường
bao bọc chung quanh vùng biển của mình rộng 9 hải lý dựa t heo
Đạo Luật Nội Hải và Ngư Trường[ix]. Theo Đạo Luật này quốc gia duyên hải có quyền xác định mực nước t rong vùng biển nội địa của mình. Lằn ranh của mực
nước nội địa cho những quốc gia cận duyên đều dựa vào luật
quốc t ế và những t ập t ục
quốc t ế được minh t hị t rong
phán quyết Unit ed
Kingdom v. Norway [x]. Đây là vụ án t ranh chấp chủ quyền t rên
những vùng đảo nhỏ ở Bắc Âu mà Na-Uy đã đưa ra Tòa Án Quốc Tế để phân xử. Na-Uy
nại rằng t rong vùng biển dọc t heo những đảo nhỏ xung quanh quốc gia mình, Na-Uy
có quyền t hiết
lập một lằn ranh bao bọc bên ngoài
những đảo nhỏ này và cấm t àu bè
ngoại quốc không được xâm phạm vào lằn ranh mà Na-Uy đã t uyên
bố rằng đây là vùng nội địa của biển mình. Sự cấm đoán này áp dụng chung ngay
cả cho những t àu bè của nước Anh.
Na-Uy cho rằng t rong vùng nước này
những ngư dân ven bờ phụ t huộc nhiều
nhất về hải sản, và như vậy quốc gia
cận duyên có quyền vẽ lằn ranh bao bọc chung quanh bờ biển của mình được minh t hị t heo
Luật và Tập Tục Quốc Tế. Toà Án quốc
t ế đã t hụ
lý vụ kiện này vào năm 1951 và phán rằng: "Trong những điều kiện đặc biệt , Luật
Quốc Tế cho phép những quốc gia cận duyên được quyền vẽ lằn mức t ừ đó xác định được vùng nội hải của mình. Vậy vùng
biển kể t ừ lằn mức này t rở vào bờ, quốc gia cận duyên có đầy đủ chủ quyền t rên vùng nước mà họ quì định." Quyết định này của Toà Án Quốc Tế cũng được áp dụng t rong t rường
hợp những quốc gia có bờ biển t hật khúc khuỷu, khi biển lấn sâu vào đất liền và cùng lúc đó có những đọan đất liền ăn xa bờ [xi]. Tòa Án Quốc Tế
cũng đưa ra ba t iêu chuẩn chính để
minh t hị đường biên t rên mặt
biển t uỳ t heo
sự quanh co khúc khuỷu của bờ biển t huộc
quốc gia cận duyên [xii].
Năm 1970, Đạo Luật
Nội Hải và Ngư Trường được cải biên cho phép Canada được mở rộng vùng nội hải
của mình rộng 12 hải lý cho cả bờ biển phía Tây là Thái Bình Dương và ngay cả
bờ biển phía Đông là Đại Tây Dương.
Sự cải biên của đạo luật
nói t rên cho phép Canada được đương
nhiên công bố ba ngư t rường t huộc vùng nội hải của mình t ừ
Vịnh St . Lawrence, Vùng Vịnh Fundy,
và vùng Queen Charlot t e Sound [xiii]. Vào những năm
cuối t hập niên 1960, quan điểm về
những vùng bảo vệ và quản lý ngư t rường
t iếp cận vùng nội hải của những quốc
gia cận duyên đã t rở t hành t hông
lệ t rong luật
quốc t ế. Trong suốt cuộc Hội Nghị về Công Ước Quốc Tế về Luật Biển lần t hứ
3, có cả t hảy 150 quốc gia t ham dự đã chấp nhận rằng ngư t rường
của quốc gia cận duyên sẽ có chiều rộng là 200 dặm biển. Vào ngày 1 t háng Một
năm 1977, Canada
t uyên bố rằng nước này có vùng độc quyền
khai t hác hải sản có bề rộng là 200
hải lý dọc t heo bờ biển của mình [xiv].
Như vậy t ừ
nay t rở về sau Canada sẽ có được hai
vùng ngư t rường rộng lớn một nằm về phía Đông t rong
biển Đại Tây Dương và một nằm về
phía Tây t rong vùng biển Thái Bình
Dương. Thừa t hắng xông lên, t háng Hai năm 1977, Canada t uyên
bố rằng t rong vùng biển Bắc Băng
Dương nơi chót vót t rên
nóc nhà của Địa Cầu, Canada cũng có một
vùng ngư t rường rộng là 200 hải lý
kể t ừ mực nước t rong bờ.
Dầu là đất
liền, biển cả hay không gian, một
khi một quốc gia nào đó đã t uyên bố vùng này nằm t rong
quyền kiểm soát của quốc gia mình, t hì quốc gia này đều có quyền t ài
phán t rên những vùng mà mình đã t uyên bố nằm t rong
chủ quyền của quốc gia mình. Riêng t heo
Công Ước Quốc Tế về Luật Biển mỗi
khi có sự vi phạm t rên vùng Đặc
Quyền Kinh Tế của quốc gia mình t hì
quốc gia nào cũng vậy đều có ba quyền quan t rọng:
- Quyền bắt
giam những t àu bè t rái phép đang ở t rong
vùng Đặc Quyền Kinh Tế,
- Quyền t ruy
nã, và
- Quyền sử dụng hỏa lực.
1. Quyền Bắt
Giữ Những Tàu Bè Trái Phép t rong
Vùng Đặc Quyền Kinh Tế:
Căn cứ t heo
điều 56 (1) của Công Ước Quốc Tế về Luật
Biển, quyền khai t hác những t ài nguyên t hiên
nhiên, bao gồm cả quyền khai t hác
hải sản, t rong vùng đặc quyền kinh t ế đều t huộc
chủ quyền của quốc gia cận duyên. Căn cứ t heo
điều khỏan đã dẫn, những quốc gia có bờ biển bao bọc chung quanh đều có chủ
quyền bắt giữ những t àu bè ngoại quốc khi vi phạm chủ quyền của quốc gia
mình. Những t àu bè này có t hể t hực
hiện những chuyến đánh cá lậu t rong
vùng biển mà mình kiểm soát , hay xâm
nhập với ý đồ khai t hác những t ài nguyên t rong
vùng đặc quyền kinh t ế. Những vụ án
sau đây cho t hấy Canada đã hành xử
quyền t ài phán t heo luật
biển đối với những t àu đánh cá lậu
của Tây Ban Nha khi xâm phạm vùng đặc quyền kinh t ế
của Canada, và những lý do viện dẫn của các bị cáo đưa ra t rước vành móng ngựa.
Trong vụ án R. v. Alvares and Laboa
[xv] bị cáo là hai
chiếc t àu lưới quét của Tây Ban Nha đánh cá bất
hợp pháp t rong vùng đặc quyền kinh t ế của Canada vào năm 1985 đã bị phi cơ t uần t iễu
của Canada chụp hình và phát hiện
nhưng không bắt được ngay t ại t rận
vào lúc đang bị vi phạm. Canada xúc t iến
cuộc điều t ra t rong
vòng 1 năm kể t ừ ngày sự cố xảy và
ra sau khi t hu t hập đầy đủ dữ kiện và cơ quan điều t ra đã ra lệnh t ầm
nã 2 chiếc t àu lưới quét của Tây Ban Nha kia.
Sau hai năm chạy t rốn,
lần này vừa mò vô vùng nước t huộc
Đặc Quyền Kinh Tế của Canada
t hì hai chiếc t àu
kia bị bắt t heo
lệnh t ruy nã có hiệu lực kể t ừ hai năm t rước.
Ra t rước
Toà, hai chiếc t àu kia viện dẫn Luật Hiến Pháp của Canada
t rong đó có điều 11 của Hiến Chương
Nhân Quyền và Quyền Tự Do của Canada
qui định rằng: t hời gian t ruy
t ố một
bị can ra Toà phải hợp lý. Chuyện này đã xảy ra 2 năm t rước rồi coi như là chuyện xưa rồi. Lúc đó hai
chiếc t àu kia đã chạy ra khỏi vùng
hải phận quốc t ế và chạy t uốt về
nước của họ rồi. Năm nay mới vừa xâm nhập chưa kịp làm ăn gì t hì bị t óm
cổ coi như sự t ruy t ố của Tòa Án Canada không phù hợp với Hiến Pháp
Nhân Quyền và Quyền Tự Do của Canada cho nên hai chiếc t àu
kia yêu cầu Toà Án Canada miễn t ố
cho họ.
Tối Cao Pháp Viện của Tỉnh Bang New Found Lands của
Canada sau khi nghe viện dẫn của Công Tố Viên và của t rạng
sư bênh vực cho hai chiếc t àu phạm
pháp, phán rằng: "Trong những hoàn cảnh đặc biệt
như t àu bè chạy t rên biển và t rong
vùng nước t huộc chủ quyền của một quốc gia cận duyên, Canada không hề vi phạm đến t hủ t ục t ố t ụng
nếu cho rằng lệnh t ruy nã được t ống đạt
không đúng lúc, quyền đưa bị cáo ra xét
xử t rước t òa
và quyền áp dụng hình phạt cho những
đối t ượng phạm luật là đi ngược lại điều 11 của Hiến Pháp Canada. Bởi
đó, Toà cho rằng t hủ t ục t ố t ụng này không bị viHiến và có hiệu lực, t hỉnh cầu của đương sự không được chấp t huận."
Trong một
vụ án khác, R. v.
Alegria and Mavan, vụ án này dính líu đến ngư phủ của Tây Ban Nha đã
xâm nhập đánh cá bất hợp pháp t rong vùng Đặc Quyền Kinh Tế của Canada. Bị cáo này
lại cũng viện dẫn Luật Hiến Pháp của
Canada cho rằng t oà án Canada đã sai sót t rong t hủ t ục t ruy t ố
bị can. Một lần nữa Toà án Canada
lại phải khẳng định rằng không có gì gọi là vi phạm đến những nguyên t ắc căn bản về công lý như đã được qui định cụ t hể t heo
điều 7 của Hiến Chương Nhân Quyền và Quyền Tự Do của Canada t rong quyền Tài Phán của Canada khi t hiếu t hông
báo cho đương sự biết quyền xử lý
đối với bị can.
Cũng nên ghi nhận rằng t rong
cả hai vụ án kể t rên không hề t hấy bên nào đưa vấn đề chủ quyền của Canada t rong việc bắt
giam những con t àu ngoại quốc vi
phạm chủ quyền t rong vùng đặc quyền
kinh t ế, và hình như mọi bên đều
đồng ý rằng quyền t ài phán t rong vùng biển t huộc
Đặc Quyền Kinh Tế của những quốc gia cận duyên là một
quyền t uyệt
đối và được t hừa nhận bởi những t ập t ục
Quốc Tế t rên biển.
Tuy nhiên một
đôi khi những quốc gia cận duyên coi việc can t hiệp
của mình với những t àu bè quốc t ế t rong
vùng hải phận quốc t ế là những việc
làm t hích nghi với quyền t ài phán dành riêng cho lãnh t hổ
của mình. Trong vụ án Spanish
v. Canda, Tòa án quốc t ế
phán rằng Tòa Án Quốc Tế không đủ t hẩm
quyền để phán xét vụ án mà Spain đưa
ra vào năm 1995, t rong vụ án này
Spain nại rằng Canada không có quyền gì khi bắy giữ con t àu
Est ai t rong
vùng hải phận quốc t ế. Riêng Canada
lại cho rằng nếu căn cứ t heo Đạo Luật Bảo Vệ Ngư Trường Cận Duyên của Canada t hì Canada có quyền bắt
giữ bất cứ t àu
bè ngoại quốc nào ngay cả khi những t àu
bè nằm t rong hải phận quốc t ế nếu t hấy
có dấu hiệu những t àu bè này đã vi
phạm Đạo Luật Bảo Vệ Ngư Trường của
Canada [xvi]. Về phía Spain nại rằng vụ án này liên hệ đến vấn đề chủ
quyền của Canada , vì Canada
đã ngang ngược bắt giữ t àu bè của ngoại quốc t rên
vùng biển quốc t ế, nằm ngoài khu đặc
quyền kinh t ế. Tuy nhiên Tòa Án Quốc
Tế với t ỷ số 12-5 t hẩm phán t hừa
nhận rằng Tòa Án Quốc Tế không đủ t hẩm
quyền để t hụ lý vụ án mà Tây Ban Nha
đưa ra để chống lại quyền t rên biển
của Canada. Ủy Ban Bảo Vệ Ngư Trường của Canada năm 1994 cho rằng họ không t hừa nhận quyền t ài
phán của Tòa Án Quốc Tế về điều hành ngư t rường
t rong vùng Tây Bắc Đại Tây Dương.
Bởi lẽ rằng những t ranh chấp này bắt nguồn t ừ
những sự t hay đổi về pháp chế để bảo
vệ cho nguồn cá ven biển của Canada cho nên những t ranh
chấp này phải nằm t rong quyền t ài phán của những chế t ài
về luật pháp của Canada mà t hôi.
Trong vùng đặc quyền kinh t ế,
quốc gia cận duyên còn có quyền áp dụng luật
và những qui t ắc luật của quốc gia mình để bảo vệ và quản lý những nguồn
t ài nguyên sống t rong vùng biển của mình [xvii].
Theo vụ án Saiga, mới xảy ra vào năm 1999 [xviii], t hì Saiga là con t àu
chở dầu mang số đăng ký ở Saint
Vincent và Grenadines .
Con t àu này bị Guinea bắt
khi đang bán dầu bất hợp pháp cho
những t àu đánh cá t rong vùng hải phận quốc t ế
nằm ngoài vùng Đặc Quyền Kinh Tế của Guinea . Tòa án quốc t ế t hừa
nhận rằng những quan chức của những quốc gia cận duyên có quyền áp dụng luật pháp của quốc gia mình, họ có quyền lên t àu, xét t àu, bắt
giữ t àu và t huỷ
t hủ đoàn t rên
t àu đưa ra xử lý t heo luật
nếu t àu bè đó có dấu hiệu vi phạm
luật của quốc gia. Tuy nhiên, t àu và t hủy
t hủ đoàn phải được t hả ra ngay t ức
khắc sau khi đã đóng t iền t hế chân hay có sự đảm bảo rằng họ không bỏ t rốn nếu khi có lệnh t riệu
t ập của Toà t rong
t ương lai. Nếu những quốc gia t ranh chấp là hội viên của Công Ước Quốc Tế t hì khi có những vụ bắt
bớ liên hệ đến công dân hay những t ài
sản t àu bè t huộc
quốc gia mình t hì quốc gia hội viên
có quyền khiếu nại lên Tòa Án Quốc Tế về Luật
Biển nếu quốc gia t hi hành lệnh giam
giữ cố ý t rì hoãn không chịu t hả ngay khi có đóng t iền
t hế chân hay khi có sự bảo đảm cho
những người bị t ình nghi vi phạm luật này.
2.
Quyền Truy Nã:
Nhiều t hế
kỷ t rước, quyền t ruy nã t rên
vùng biển t huộc quốc gia mình kiểm
soát là một
t rong những t ập
t ục của luật
quốc t ế về luật
biển. Cho đến năm 1958, t rong Hội
Nghị về Luật Biển t ại Geneva, t hì
quyền này được ghi vào điều 23 của Công Ước. Trong t ác
phẩm Luật Quốc Tế về Đại Dương t ác giả D.P. O'connell cho rằng: "Quyền t ruy
nã những t àu ngoại quốc t rên hải phận quốc t ế
coi như hợp pháp nếu như những t àu
ngoại quốc này vi phạm luật t rên vùng biển của quốc gia cận duyên xong rồi bỏ
chạy ra vùng biển quốc t ế, việc t ruy nã này phải có t ính
cách t ức khắc và liên t ục sau khi vi phạm luật
và những chiếc t àu ngoại quốc này
khi bị t ruy nã đã cố t ránh né sự t ruy
nã của quốc gia sở t ại bằng chạy t uốt ra
vùng biển quốc t ế" [xix].
Trong vụ án The Ship "Nort h"
v. The King, Thẩm phán Davies nhận định về quyền t ruy nã t rên
biển như sau: "Tôi
nghĩ rằng t heo Luật Hàng Hải t uy
t òa án có t hẩm
quyền xét xử phải hạn chế quyền của
mình t heo luật
của quốc gia sở t ại, nhưng nếu có một chiếc t àu
nào của nước ngoài mà vi phạm luật
của quốc gia cận duyên về luật bảo
vệ ngư t rường hay vi phạm những
nguồn t ài nguyên nằm t rong vùng biển t hì
quốc gia chủ có quyền t ruy nã những
chiếc t àu ngoại quốc vi phạm này và
sự rượt bắt
này có hiệu lực mặc dầu những chiếc t àu
ngoại quốc này đã chạy ra cho t ới
vùng hải phận quốc t ế".[xx]
Trong vụ án R. v. Blanco [xxi], t òa nhận định rằng mặc dầu những qui ước và những t ập t ục
quốc t ế về Luật
Biển đã được qui định rõ t heo giấy t rắng mực đen, nhưng t ập
t ục về luật
biển đã t rở t hành
t hông dụng cho t ất cả
những t oà án quốc t ế về luật
biển và đã được áp dụng hàng nhiều t hế
kỷ qua. Trong vụ án này mặc dù nguyên cáo bị t uyên
xử về t ội đánh cá bất hợp pháp ngoài vùng hải phận của Canada . Vậy t hì
vấn đề được đặt ra là những t oà án của Canada
có t hẩm quyền xét xử những t àu
đánh cá bất hợp pháp t rong vùng nước gần Canada
nhưng t hực sự không nằm t rong sự kiểm soát
của Canada .
Công t ố Viện của Canada dựa t rên học t huyết của "quyền t ruy
nã" mà lập luận rằng, t rong
những t rường hợp khẩn t hiết ,
quyền t ài phán của Canada phải được
mở rộng đối với những t ội phạm xảy
ra khi quyền t ruy nã được phát động. Bị cáo t hì
nại rằng vì t ội phạm này xảy ra t rong vùng biển quốc t ế
nên Canada
không có quyền t ài phán nào đối với
bị can cả và xin t òa án bãi bỏ án
lệnh nói t rên.
Tòa án kết
luận rằng Canada
không có được quyền t ài phán về hình
sự đối với những t ội phạm xảy ra t rên hải phận quốc t ế.
Học t huyết
về "quyền t ruy nã" không
gián t iếp cho phép quốc gia cận
duyên áp dụng luật của mình đối với
những t ội phạm xảy ra ngoài vùng
biển qui định là vùng đặc quyền kinh t ế
của quốc gia mình. Theo luật Common
Law đang được áp dụng t ại những quốc
gia nói t iếng Anh, t hì quyền t ruy
nã được xem như là quyền t ự vệ của
quốc gia mình đối với những t àu biển
phạm luật t rong
vùng Đặc Quyền Kinh Tế và bị rượt
đuổi đã chạy ra được t ới hải phận
quốc t ế. Quốc gia cận duyên này được
xem như là đại biểu của những quốc gia t rong
Công Ước Quốc Tế được quyền t ruy bức
t ội phạm để bảo vệ những quyền lợi
cho t rật
t ự quốc t ế.
Luật quốc t ế
còn cho phép những quốc gia cận duyên được quyền bắt
giữ và sử dụng hạn chế hỏa lực đối với những ghe t huyền
phạm pháp.
Trong vụ án R. v. Kirchoff [xxii] là vụ án điển
hình cho quyền t ruy nã t rên mặt
biển đối với những t àu bè phạm pháp,
t àu t uần
duyên của Canada phát hiện t àu bị cáo t iếp
xúc với một chiếc t àu con, gọi t ắt là t àu
LT, ngoài hải phận quốc t ế. Tàu t uần duyên này t iếp
t ục t heo
dõi t àu bị cáo t rong vùng nước ngoài hải phận quốc t ế, cho đến khi nhận được mật
lệnh rằng chiếc t àu con LT khi nãy
gặp t àu bị cáo ở ngoài khơi, nay đã
vào bờ t ại Tiểu Bang Nova Scot ia và bị phát
hiện có chở một số lượng bạch phiến
rất lớn. Tàu t uần
duyên của Canada
lập t ức t ruy
đuổi chiếc t àu mẹ và bắt giữ t rên
vùng biển quốc t ế. Bị cáo nại rằng t heo t hủ t ục hình sự của điều 477 Bộ Luật Hình Sự của Canada t hì
t hứ nhất
khi bắt giữ một
t àu ngoại quốc hình cảnh của Canada
phải được sự chấp t huận của Chưởng
Lý Liên Bang, t hứ nữa khi sử dụng
quyền t ruy nã t heo
luật biển t hì
sự t ruy nã này phải bắt đầu t ừ t rong vùng nước t huộc
Canada chứ đây sự t ruy nã chỉ xảy ra
t rong vùng biển quốc t ế nên hình cảnh của Canada t rong
t rường hợp này không t uân t hủ
đúng t heo luật
định. Tuy nhiên, t òa án Canada
nhận xét rằng việc bắt giữ chiếc t àu
phạm pháp này hoàn t oàn đúng luật . Mặc dầu công ước quốc t ế
về luật biển t hừa
nhận rằng quyền t ruy nã t rên biển phải bắt
đầu t ừ vùng nước t huộc quốc gia cận duyên và t àu
bị t ruy nã chạy ra vùng biển quốc t ế t hì sự
t ruy nã này mới được coi như hợp
pháp. Nhưng t rong t rường hợp này t àu
mẹ t uy ở ngoaì vùng nước biển của
Canada nhưng chiếc t àu con t ải hàng cho chiếc t àu
mẹ t hì đang t rong
vùng biển của Canada cho nên t òa
phải áp dụng nguyên t ắc của sự hiện
diện t rực t ín
và cho rằng chiếc t àu mẹ này cũng
nằm t rong phần biển của Canada. Viên
chức của Canada
khi t hi hành nhiệm vụ cũng đã xin
phép chưởng lý khi lên t àu khám xét cho nên không có điều chi t rái
với nguyên t ắc t ố t ụng
hình sự.
Con t àu
phạm pháp còn cãi t hêm rằng t heo điều 17 khoản 4 của Công Ước Quốc Tế chống việc
buôn lâụ ma t úy được chấp t huận t ại
Vienna, nước Áo ngày 19 t háng 12 năm
1988, t hì quốc gia cận duyên phải
xin phép quốc gia có t àu phạm pháp
mới được lên t àu xét hàng và bắt
người khi có bằng cớ rằng t àu này có
vận chuyển bất hợp pháp chất ma t uý.
Trong t rường hợp này Canada
không xin phép quốc gia mang cờ t rên
t àu mà đã nhảy lên t àu lục soát ,
bắt hàng, bắt
người.
Để t rả lời
cho viện dẫn nói t rên của bị cáo, t òa cho rằng quyền t ruy
nã không được xem như bắt đầu t rừ phi t àu
t uần duyên nhận t hấy có dấu hiệu nghi ngờ rằng t àu ngoài xa là t àu
mẹ và cho t àu con vào bờ để làm
những chuyện bất hợp pháp, bởi các lẽ
đó cho nên t òa án Canada đã phán
rằng việc t ruy nã và bắt bớ t àu
mẹ t rong vùng biển quốc t ế là đúng t heo
Công Ước Quốc Tế phù hợp với những t ập
t ục quốc t ế
về luật biển.
Trong vụ án R.
v. Dunphy [xxiii], bị cáo bị t ruy t ố
về t ội buôn lậu t huốc lá và rượu mạnh t rái
với điều 159 Luật Thuế Quan. Khi t uần t iễu
t hường lệ t rong
vùng Đặc Quyền Kinh Tế của Canada ,
Cảnh Sát Liên Bang phát hiện có t àu
lạ đang t iến về phía họ. Khi lại gần
bỗng nhiên con t àu bẻ lái 180 độ bỏ
chạy. Cảnh Sát Liên Bang cố rượt t heo
con t àu đang bỏ chạy và cố chận
chiếc t àu này lại t rong vùng biển t huộc
quyền kiểm soát của Canada .
Con t àu này không chịu dừng lại mà
cứ cấm đầu cắm cổ chạy, và chạy t uốt cho đến đảo St . Pierre , một vùng t rực
t huộc của Pháp t rên biển Đại Tây Dương, mới chịu dừng lại. Khi rượt đuổi các sĩ quan đã quan sát
t hấy t rên
t àu có nhiều bao rác màu xanh cột miệng lại. Khi t àu
dừng t ại St Pierre
t hì sĩ quan Cảnh Sát nhảy lên t àu
và xé miệng bao rác màu xanh ra và phát
hiện bên t rong t oàn là t huốc
lá không đóng t huế. Cảnh sát kết
luận rằng số lượng t huốc lá này là t huốc lá lậu, nhưng không bắt
bớ ai, cũng như không t ịch t hu hàng hóa. Sự kiện xảy ra đã gây t ổn t hương
đến bang giao quốc t ế, Cảnh Sát Liên Bang của Canada
có t hư xin lỗi chính quyền St .
Pierre . Con t àu
chở t huốc lá lậu và rượu lậu này lý
luận rằng bằng cớ của cuộc bố ráp này là không đúng luật
và xin Tòa t iêu hủy.
Tòa đồng ý sự kháng cáo của đương sự. Tòa án cũng nói t hêm rằng khi t hủ
phạm chạy t rốn t hì cảnh sát
không cần phải xin t rát bắt
giữ, t uy nhiên nếu t hủ phạm chạy t rốn
khỏi phạm t rường nếu chứng cớ không
bắt được quả t ang
t rong vùng biển của mình t hì chứng cớ này coi như bị mất .
Tòa đồng ý rằng cảnh sát có quyền t ruy nã, lục soát
và bắt giữ t rong
vùng biển t huộc đặc quyền kinh t ế của mình, nhưng quyền t ruy
nã này không được mở rộng nếu con t àu
phạm pháp chạy t uốt qua vùng biển của quốc gia khác. Hành động của sĩ
quan cảnh sát lần này nhảy lên t àu mở bao rác ra xem t huốc
lá lậu là hành động bất hợp pháp t heo luật
quốc t ế. Riêng t heo điều 8 của Hiến Pháp Canada t hì
bằng chứng này không được t oà án
chấp t huận khi cảnh sát vượt
quá quyền hạn luật định của mình.
Các viên chức t hừa hành của chính
phủ khi sử dụng quyền hạn của mình t rên
biển phải biết t ôn t rọng
luật lệ của những quốc gia láng
giềng. Luật quốc t ế cho phép những quốc gia cận duyên khi đuổi bắt những t àu
ngoại quốc có những hành vi t rái luật t rong
vùng đặc quyền kinh t ế của mình cũng
được sử dụng võ lực nhưng chỉ được sử dụng ở một
mức độ nào đó mà t hôi.
3.
Quyền Sử Dụng Hỏa Lực:
Mặc dầu các qui ước quốc t ế
về Luật Biển không có điều khoản nào
minh t hị rõ ràng về quyền sử dụng
hỏa lực khi chận bắt những t àu bè ngoại quốc. Tuy nhiên, t heo
điều 293 của Công Ước có nhắc nhở rằng phải t ránh
dùng võ lực, t ránh được chừng nào t ốt chừng
nấy. Nếu gặp những t rường hợp chẳng
đặng đừng bắt buộc phải dùng hỏa lực
t hì sử dụng hỏa lực chỉ xảy ra t rong mức độ cần t hiết hợp lý mà t hôi
[xxiv]. Những nguyên t ắc sử dụng võ lực t rên
biển nêu t rên đã được t uân t hủ t rong nhiều t hập
niên qua. Thông t hường khi muốn chận
bắt một
t àu ngoại quốc t rong vùng biển của mình, t àu
chủ nhà phải ra ám hiệu, hay dùng những hiệu báo quốc t ế
để yêu cầu chiếc t àu bị t ình nghi dừng lại. Một
khi đã ra hiệu cho chiếc t àu t ình nghi dừng lại nhưng chiếc t àu kia không chịu ngừng t hì
t àu chủ nhà lập t ức t hực
hiện những hành vi khẩn cấp để chận đứng t àu
bị t ình nghi, hành động này bao gồm
cách bắn chận t rước mũi t àu. Sau khi t ất cả những cố gắng t rên
không t hành công t hì hỏa lực mới được dùng đến, nhưng phải cố gắng t ối đa để t ránh
t ổn t hất về nhân mạng [xxv].
Trong vụ án I'm Alone [xxvi], t àu I'm Alone là con t àu
của Anh được đăng ký t ại Canada .
Vào năm 1929, Hoa Kỳ là quốc gia khao khát
rượu mạnh. Tàu này chuyên chở rượu Rum để bán lậu vào Hoa Kỳ. Vào ngày 22 t háng Ba năm 1929, t àu
này chuyên chở rượu mạnh t ừ Belize ở
Brit ish Honduras, xác định điểm giao
hàng t rong vùng Vịnh Mễ Tây Cơ gần
ven biển Louisiana, t ừ điểm giao
hàng này sẽ có những t àu nhỏ chuyển
hàng lậu đưa vào Mỹ để bán. Chẳng may, I'm Alone bị t àu
Wolcot t ,
một t àu
Thuế Vụ của Mỹ phát hiện, t heo dõi t rong
vùng Nội Hải. Sau khi bị rượt chạy t ừ vùng Nội Hải ra cho t ới
ngoài vùng Đặc Quyền Kinh Tế là 200 hải lý, t hì
t àu I'm Alone bị một t àu t huế vụ t hứ
hai của Mỹ, là t àu Dext er, cố đụng cho chìm.
Ủy Ban điều t ra
vụ án cho rằng nhân viên công lực Mỹ t rong
vụ án này có quyền t ruy nã và đã t ruy nã t rực
t iếp chiếc t àu
của Canada
nói t rên. Tuy nhiên, Ủy Ban Điều Tra
của vụ án cũng đã minh t hị công nhận
rằng một khi t àu
rượt đuổi cố ý đánh chìm chiếc t àu ngoại quốc bị rượt
đuổi là một hành vi phạm những Hiệp
Ước về việc sử dụng hoả lực t rên
biển giữa Hoa Kỳ và Canada, cũng như vi phạm t ập
t ục quốc t ế
về luật biển. Hành động cố ý đánh
chìm t àu của Vệ Binh Duyên Hải của
Hoa Kỳ đối với chiếc t àu của Canada
là một hành động t rái luật .
Ủy Ban cho rằng Hoa Kỳ phải công nhận đây là một
hành động t rái luật , và phải có lời xin lỗi chính phủ Canada
đồng t hời phải bồi t hường t hiệt hại. Nguyên t ắc
căn bản t rong việc sử dụng hỏa lực
để bắt t àu
ngoại quốc t rên biển đã được t ái khẳng định bởi Thỏa Ước t hi
hành những điều khỏan của Công Ước Quốc Tế về luật
biển vào ngày 10 t háng 12 năm 1982.
Thỏa Ước này qui định rằng: "Quốc Gia t ruy
nã phải đảm bảo những chuyên viên xét
t àu của họ:
(f) Tránh dùng hỏa lực ngoại
IV.
KẾT LUẬN
Mang t ính
chất đầu t iên
là vùng biển quốc t ế, vùng Đặc Quyền
Kinh Tế đã t rở t hành một
vùng sống động cho những quốc gia có số phận liên quan đến vùng biển đang t ranh chấp. Những t ranh
chấp về ngư t rường, cũng như nguồn t ài nguyên t hiên
nhiên t rong vùng đã gây nên những
căng t hẳng về chính t rị và pháp lý. Những quốc gia liên hệ đôi khi nếu
không khéo xử sự dễ đưa đến những xung đột
quân sự khiến cho t ình t rạng bất
ổn t rong vùng lại gia t ăng. Ngày nay, luật
pháp quốc t ế đã có những cố gắng
xoay quanh đề t ài chủ quyền của quốc
gia và quyền t ài phán của quốc gia t rong vùng Đặc Quyền Kinh Tế để làm sáng t ỏ rằng quốc gia nào t hực
sự có chủ quyền.
Nói đến những vùng đặc quyền Kinh Tế t rên biển cả bao la lại nhớ đến quê t a với rừng vàng biển bạc. Việt
Nam nước t a có hơn 2,500 Km bờ biển t ừ Móng Cái cho đến Hà Tiên với những bãi cát t rắng
xóa, non nước hữu t ình, đầy những
phong cảnh vừa nên t hơ, vừa hùng vĩ.
Biển Đông t a với hai quần đảo Trường
Sa và Hoàng Sa như “một bầy t hủy quái khổng lồ nổi t rên
mặt biển, che mặt biển Đông như những t ấm
bình phong.” [xxvii] Chính nơi đây
Trung Quốc, Đài Loan, Phi Luật Tân,
Mã Lai, Brunei, Darusssalam, Nam Dương, và Việt
Nam đang t ranh cãi về chủ quyền của
mình.
Những quốc gia t ranh
chấp nên ý t hức rằng vấn đề này nhất định không phải giải quyết
bằng võ lực mà phải dùng Công Pháp Quốc Tế và hãy để cho Tòa Án Quốc Tế định
đoạt số phận của t ừng hòn đảo. Những luật
gia quốc t ế hãy rời khỏi t háp ngà của mình đến t ận
nơi, t ừng hòn đảo nhỏ, đối diện với
sự t hật ,
nằm lắng nghe t iếng nói của lương t âm và luật
pháp. Hãy đưa nhác cuốc của lương t ri
xuống cho t ới t ận
cùng của những t ầng sinh t hổ để chứng minh cho t hế
giới t hấy rằng Việt Nam
đã xác nhận chủ quyền của mình t rên
hai quần đảo này kể t ừ ngày Vua Lê
Thánh Tôn cắm cờ t rên núi Đá Bi.
Đề cập đến sự xác định về chủ quyền của một quốc gia t rên
một vùng lãnh hải, yếu t ố lịch sử phải được soi xét
cẩn t rọng. Những quốc gia t ương t ranh
phải hiểu rằng ngoài t rách nhiệm
giữa quốc gia này đối với quốc gia khác t rong
cộng đồng quốc t ế, chúng t a còn có những nghĩa vụ quốc t ế
của quốc gia mình đối với những quốc gia t rong
vùng t ranh chấp. Đừng ỷ mạnh hiếp
yếu, đừng giở t rò t hảo khấu của những kẻ chỉ dựa sức mạnh t rên đầu mũi súng.
Gần đây, chính t rên
vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đã bắn chết
nhiều ngư dân Việt Nam đang t hả lưới buông câu để kiếm sống. Họ là những ngư phủ
bình t hường, không một t ất sắt t rong t ay,
đang kiếm ăn t rên vùng biển mà t ổ t iên
của họ hàng bao t hế kỷ đã t hả lưới buông câu, nhưng nay họ lại bị bắn giết bởi đội quân của một
nước “láng giềng hữu nghị”. Hành động giết
người bừa bãi nầy của Trung Quốc, cũng như việc Trung Quốc t uyên bố t hành
lập huyện Tam Sa bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa, đã vi phạm t rắng t rợn
Công Ước Quốc Tế về Luật Biển và đủ
cấu t hành t ội
ác xâm lăng.
PHAN TẤN THIỆN
[i] H. M. Kindred, K. Mickelson, R. Provost , L. C. Reif, T. l. McDorman, A. L. C. deMest ral & S. A. Williams. "Int ernat ional
Law, Chiefly as Int erpret ed and Applied in Canada ", 6t h Edit ion,
Edmond Mont gomery Publicat ions Limit ed,
2000, at 882.)
[ii] R.R. Churchill & A.V. Lowe, "The
Law of t he Sea" Manchest er
Universit y
Press 1983 at 125.
[iii] Mc Dougal & Burke, "The
Public Order of t he Oceans",
New Haven , Conn. , 1952, at
2.
[iv] L.B. Sohn, "The Law of t he Sea", West
Publishing Company, Minnesot a , 1984, at 115.
[v] R.P. Anand. "Law of t he Sea Caracas
and Beyond", Mart inus
Nijhoff Publishers, 1980 at 205.
[vi] A.L. Hollick, "The origins of 200
mile off shore zone", (1977) 71 AJIL at
404.
[vii] President
Declarat ion of Chile , 4 Whit eman,
Digest of Int ernat ional Law 794-96 (1965). Xem t iªp
1947 President Decree No. 781 of Peru , id. at 797-98; 1951 Ecuadorean Congressional Decree, id.
at 799-800.
[viii] Supra
6 at 494-500.
[ix] Territ orial Sea and Fishing Zones Act ,
S.C. 1964-1965, c. 22.
[x] Unit ed Kingdom v. Norway
[1951] I.C.J. Rep. 116.
[xi] Ibid
10 at 128.
[xii] Convent ion
ent re Grande-Bret agne et
Russie, concernant les limit es de leurs possessions respect ives sur la cot e
Nord-Oust de l'Amerique. 1825,
Recueil de Mart ens, Nouvelle serie,
Vol. II at 427-8 as cit ed in D. Pharnd, Canada's Art ic
Wat ers in Int ernat ional Law (Cambridge: Cambridge Universit y Press, 1988) Appendix A at
258.
[xiii] Fishing Zones of Canada (Zones 1, 2, 3) Order,
C.R.C. 1978, Vol. XVIII, c. 1547, page 13739.
[xiv] C.R.C. 1978, cc. 1547-1549.
[xv] R. v. Alvares and Laboa
(1989), 76 Nfld, And P.E.I. R. 256 (Nfld
S.C. )).
[xvi] Canadian Coast al
Fisheries Prot ect ion Act .
[xvii] Công Ước Quốc Tế
về Luật Biển điều
37.
[xviii] Trong vụ án Saiga, xảy ra vào nåm 1999: St Vincent and t he
Grenadines v. Guinea , Case No. 2 (Int 'l Tri. for Law of Sea, July 1, 1999), 92 Am. J. Int 'l L. 278 (1999) [Int ernat ional Decision report ed
by Bernard H. Oxman].).
[xix]D.P.O'Connell "The Int ernat ional
Law of The Sea", (2nd ed., I, A. Shearer, ed.), Vol. II at 1075.).
[xxi] [1991] N.J. No. 313 DRS 93-00713 1991 St . J. No.
2471.
[xxii] [1995] N.B.J. No. 599 DRS 96-0448 No.
B/M/158/95).
[xxiii] [1996] N.J. No. 100 DRS 96-10438 1994
G.B. No. 156).
[xxiv] H.M. Kindred et
al. "Int ernat ional Law" (2000) Edmond
Mont gomery
(6 ed.) at 899).
[xxv] Supra 18 at 87.
[xxvi] Canada v. Unit ed St at es, 1935, U.N.R.I.A.A., Vol. III, p. 1609;
(1935), 29 Am. J. Int . L. 327.
[xxvii] Xem bản đồ Hồng Đức đời Vua Lê Thánh T ông (1470-1498) đã chỉ rõ quần
đảo Trường Sa nằm ngoài khơi biển Đông là vùng lãnh hải của Việt Nam . Tài liệu này đã được in lại t rong “Đại Nam Nhất
Thống Chí”, phần “Toàn Đồ Triều Nguyễn”, t ài
liệu này dựa vào bài viết của t c giả Lê Tùng Minh: “Lịch Sử đã Chứng Minh Chủ Quyền
Hợp Pháp của Việt Nam về Hai Quần Đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.”